Nhờ Luật Sư tư vấn về tội đánh bạc online

Tôi có đứa em hiện nay vừa bị cảnh sát điều tra C50 triệu tập vì liên quan đến tội đánh bạc(Cụ thể là cá cược bóng đá qua mạng).Qua tìm hiểu tôi cũng biết sơ qua nhưng chưa thật sự tường tận về vấn đề này.Nên nhờ các luật sư tư vấn giúp tôi.

Theo em tôi kể lại,thì trong năm 2013 nó có lập 1 tài khoản tại BIDV để tham gia cá độ bóng đá.Số tiền nạp vào thường là 1 triệu đồng mỗi lần.Sau nhiều lần đánh(với hình thức giải trí ) thì mỗi trận nó đánh 500k,tối đa là 1 triệu.Tuy nhiên thua nhiều hơn thắng.Tổng số tiền thua trong vài tháng kể từ khi nó tham gia đến lúc bị cơ quan công an phong tỏa tài khoản là trên dưới 10 triệu đồng(Hiện trong tài khoản nó bị phong tỏa gần 4tr đồng,số tiền này là tiền cơ quan trả lương qua tài khoản và nó vẫn gửi vào để cất giữ).Và vấn đề này nó cũng ghi tại biên bản tường trình với công an.Tuy nhiên thì ngoài ra tôi đang băn khoăn chú ý ghi ” có trận bắt 1 triệu/trận,và ngày hôm đó bắt 2 trận tức là 2 triệu”

Về hình thức cá cược online mới nở rộ vài năm trở lại đây cho nên Luật hình sự của mình chưa đề cập cụ thể?Vậy tôi kính mong các Luật sư giải thích và tư vấn giúp tôi,với trường hợp như của em tôi thì hình phạt nặng nhất là bao nhiêu?Và nếu có bị phạt tài chính thì số tiền tối đa gia đình tôi phải chịu là bao nhiêu.

Mới gia nhập Hỏi lúc Tháng Ba 14, 2015 trong No Category.
Thêm nhận xét
2 Câu trả lời

Theo trình bày của bạn thì em bạn có dấu hiệu của tội đánh bạc được quy định tại Điều 248 BLHS. Tội đánh bạc. Bạn tham khảo nhé:

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị từ năm mươi triệu đồng trở lên;

c) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng.

Mới gia nhập Đã trả lời 23 giờ trước.
Thêm nhận xét

Về bản chất thì vẫn có hành vi đánh bạc, chỉ khác về hình thức thanh toán thôi.

Quan trọng là giá trị tài sản được sử dụng để đánh bạc:

Theo quy định tại Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP, có những quy định sau đây xác định vấn đề này:

Khoản 2, Điêu 1: “Khi xác định trách nhiệm hình sự đối với người đánh bạc không được tính tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để đánh bạc của tất cả các lần đánh bạc, mà phải căn cứ vào từng lần đánh bạc để xem xét; cụ thể như sau:

a) Trường hợp tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần đánh bạc đều dưới mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự (dưới 2.000.000 đồng) và không thuộc một trong các trường hợp khác để truy cứu trách nhiệm hình sự (đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm) thì người đánh bạc không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc;

b) Trường hợp tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của lần đánh bạc nào bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự (từ 2.000.000 đồng trở lên) thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc đối với lần đánh bạc đó;

c) Trường hợp đánh bạc từ hai lần trở lên mà tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần đánh bạc bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự (từ 2.000.000 đồng trở lên) thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc với tình tiết tăng nặng “phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự;

d) Trường hợp đánh bạc từ năm lần trở lên mà tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc của từng lần đánh bạc bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự (từ 2.000.000 đồng trở lên) và lấy tiền, hiện vật do đánh bạc mà có làm nguồn sống chính thì người đánh bạc phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc với tình tiết định khung “có tính chất chuyên nghiệp” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 248 của Bộ luật hình sự.”

Tiết b, khoản 4, Điều 1: “b) Trường hợp đánh bạc dưới hình thức chơi số đề, cá độ bóng đá, cá độ đua ngựa… thì một lần chơi số đề, một lần cá độ bóng đá, một lần cá độ đua ngựa… (để tính là một lần đánh bạc) được hiểu là tham gia chơi trong một lô đề, tham gia cá độ trong một trận bóng đá, tham gia cá độ trong một kỳ đua ngựa… trong đó người chơi có thể chơi làm nhiều đợt. Trách nhiệm hình sự được xác định đối với người chơi một lần đánh bạc trong các trường hợp này là tổng số tiền, giá trị hiện vật dùng để chơi trong các đợt đó.

Ví dụ 1: Tại kỳ đua ngựa thứ 39, tổ chức vào ngày 15-7-2010, trong khoảng thời gian từ 9 giờ đến 11 giờ A đã cá độ ba đợt cụ thể là đợt một 500.000 đồng, đợt hai 1.000.000 đồng, đợt ba 2.000.000 đồng, trong trường hợp này chỉ coi A đã đánh bạc một lần trong kỳ đua ngựa đó với tổng số tiền là 3.500.000 đồng.

Ví dụ 2: Ngày 20-7-2010, trong khoảng thời gian từ 10 giờ đến 16 giờ, B mua ba số đề trong một lô đề cụ thể là: mua số 17 với số tiền là 500.000 đồng, mua số 20 với số tiền là 2.100.000 đồng, mua số 25 với số tiền 3.000.000 đồng; trong trường hợp này, chỉ coi B đánh bạc một lần.

Trong các trường hợp nêu tại ví dụ 1 và ví dụ 2 trên đây, nếu số tiền cá độ đua ngựa, số tiền mua số đề của mỗi đợt từ 2.000.000 đồng trở lên thì cũng không được áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự.”

Điểm 5.1, Điều 5: “5.1. Xác định số tiền hoặc giá trị hiện vật của người chơi đề, cá độ dùng đánh bạc

a) Trường hợp người chơi số đề, cá độ có trúng số đề, thắng cược cá độ thì số tiền mà họ dùng đánh bạc là tổng số tiền mà họ đã bỏ ra để mua số đề, cá độ cộng với số tiền thực tế mà họ được nhận từ chủ đề, chủ cá độ.

Ví dụ: B mua 5 số đề với tổng số tiền là 100.000 đồng, tỷ lệ được thua 1/70 lần, trong đó có 4 số đề mua mỗi số 10.000 đồng, 1 số đề mua với số tiền 60.000 đồng, hành vi của B bị phát hiện sau khi có kết quả mở thưởng, kết quả bóng đá, kết quả đua ngựa… và B đã trúng số đề mua với số tiền 60.000 đồng thì số tiền B dùng đánh bạc trong trường hợp này là 100.000 đồng + (60.000 đồng × 70 lần) = 4.300.000 đồng.

b) Trường hợp người chơi số đề, cá độ không trúng số đề, không thắng cược cá độ hoặc bị phát hiện, ngăn chặn trước khi có kết quả mở thưởng thì số tiền mà họ dùng đánh bạc là tổng số tiền mà họ đã bỏ ra để mua số đề, cá độ.

Ví dụ 1: Trong ví dụ nêu tại tiết a điểm 5.1 khoản 5 Điều này, nếu B không trúng số nào thì số tiền B dùng đánh bạc trong trường hợp này là 100.000 đồng.

Ví dụ 2: Trong ví dụ nêu tại tiết a điểm 5.1 khoản 5 Điều này, nếu hành vi của B bị phát hiện, ngăn chặn trước khi có kết quả mở thưởng thì số tiền B dùng đánh bạc trong trường hợp này là 100.000 đồng (không phụ thuộc vào việc khi có kết quả mở thưởng B có trúng số đề hay không trúng số đề).”

Dựa vào từng lần đánh bạc của em bạn và kết quả “được thua” thì ta có thể xác định được em bạn có phạm tội hay không (chưa xét đến các yếu tố về nhân thân).

Về mức án phải chịu (nếu phạm tội) thì không thể dự đoán trước được.

Thân gửi!

Em bé Đã trả lời 23 giờ trước.
Thêm nhận xét

Câu trả lời của bạn

Khi đăng câu trả lời, nghĩa là bạn đã đồng ý với privacy policyterms of service.