Trong nội dung Điều lệ của một tập đoàn kinh tế nhà nước có quy định về quyền hạn và nhiệm vụ của Chủ tịch Hội đồng quản trị như sau:

“Điều ….. Chủ tịch Hội đồng quản trị

Chủ tịch Hội đồng quản trị là người đại diện theo pháp luật. Chủ tịch Hội đồng quản trị có quyền thay mặt Hội đồng quản trị, nhân danh Tổng công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến việc xác định và thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ và quyền lợi của Tổng công ty, chịu trách nhiệm trước Thủ tưởng chính phủ, trước pháp luật và trước Hội đồng quản trị về các vấn đề đã quyết định.

Chủ tịch Hội đồng quản trị có quyền hạn và nhiệm vụ sau:

Thay mặt Hội đồng quản trị ký nhận vốn, đất đai, tài nguyên và các nguồn lực khác do Nhà nước đầu tư và giao cho Tổng công ty, quản lý Tổng công ty theo các nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị, Điều lệ Tổng công ty và pháp luật Nhà nước;

Tổ chức nghiên cứu và xây dựng chiến lược phát triển, kế hoạch dài hạn, dự án đầu tư quy mô lớn, phương án đổi mới tổ chức, bổ nhiệm các nhân sự của Tổng công ty để trình Hội đồng quản trị xem xét, quyết định hoặc trình Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn;

Lập chương trình kế hoạch hoạt động của Hội đồng quản trị, quyết định chương trình, nội dung họp và tài liệu phục vụ cuộc họp; triệu tập và chủ trì các cuộc họp của Hội đồng quản trị;

Thay mặt Hội đồng quản trị phê chuẩn hoặc ký các Nghị quyết, Quyết định của Hội đồng quản trị trên các lĩnh vực: đầu tư phát triển, sản xuất kinh doanh, tài chính kế toán, tổ chức nhân sự của Tổng công ty và các đơn vị thành viên do Tổng công ty sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng quản trị tại khoản 2 điều 16 Điều lệ này;

Tổ chức theo dõi và giám sát việc thực hiện các Nghị quyết, Quyết định của Hội đồng quản trị; có quyền đình chỉ các quyết định của Tổng giám đốc, của Chủ tịch, Giám đốc công ty con do Tổng công ty sở hữu toàn bộ vốn điều lệ và đơn vị sự nghiệp trái với các Nghị quyết, Quyết định của Hội đồng quản trị;

Đề nghị Hội đồng quản trị và Thủ tướng Chính phủ kết quả và tình hình hoạt động kinh doanh của Tổng công ty;

Các quyền khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ này.

Vậy, anh chị cho tôi hỏi: Ông Chủ tịch hội đồng quản trị của Tập đoàn kinh tế này có được ký nhân danh Chủ tịch hồi đồng quản trị trên chứng thư bảo lãnh vay vốn của Tập đoàn cho một Công ty thành viên của tập đoàn không?

Xin trân trọng cảm ơn.

Mới gia nhập Hỏi lúc Tháng Mười Hai 16, 2014 trong Pháp luật.
Thêm nhận xét
1 Câu trả lời

Căn cứ điều 33, 38 Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 2003 thì Chủ tịch Hội đồng quản trị không kiêm nhiệm Tổng giám đốc công ty và Tổng Giám đốc công ty là người đại diện theo pháp luật của công ty.

Do đó, điều lệ trên chưa phù hợp quy định pháp luật. Vì vậy, Chủ tịch Hội đồng quản trị công ty ký chứng thư bảo lãnh vay tiền không nhân danh công ty. Vì vậy, công ty không chịu trách nhiệm khoản bảo lãnh này.

Thực tập sinh Đã trả lời lúc Tháng Bảy 29, 2017.
Thêm nhận xét


Bạn cần Đăng nhập bằng tài khoản Facebook hoặc Google để trả lời !