Ông a và bà b kết hôn hợp pháp năm 1986. Hai ông bà có tài sản chung trị giá 800 triệu. Cả 2 vợ chồng muốn thành lập doanh nghiệp để kinh doanh và đứng tên cả 2 người.

Vậy xin hỏi, 2 ông bà có thành lập được doanh nghiệp không? Loại hình doanh nghiêp nào? vì sao?

Xin anh (chị) hướng dẫn?

Mới gia nhập Hỏi lúc Tháng Mười Hai 16, 2014 trong Pháp luật.
Thêm nhận xét
2 Câu trả lời

Chào bạn,

Theo thông tin bạn cung cấp, tôi xin có tư vấn như sau;

Điều 13 Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 có quy định:

Điều 13. Quyền thành lập, góp vốn, mua cổ phần và quản lý doanh nghiệp

1. Tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Tổ chức, cá nhân sau đây không được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam:

a) Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;

b) Cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức;

c) Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam;

d) Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong các doanh nghiệp 100% vốn sở hữu nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo uỷ quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác;

đ) Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự;

e) Người đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị Toà án cấm hành nghề kinh doanh;

g) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản.

– Vậy Ông A và Bà B có quyền thành lập doanh nghiệp nếu không thuộc vào các trường hợp ở khỏan 2 Điều 13 nêu trên.

– Tùy theo ngành nghề,muc đích kinh doanh mà Ông A và Bà B có thể chọn các lọai hình doanh nghiệp sau: công ty TNHH 2 thành viên,công ty hợp danh, công ty cổ phần,hộ kinh doanh cá thể. Vì Ông A và Bà B đều muốn cùng đứng tên nên hình thức doanh nghiệp tư nhân và công ty TNHH 1 thành viên sẽ không phù hợp vì theo quy định tại Điều 63 khoản 1 và Điều 141 khoản 1 Luật doanh nghiệp là hình thức doanh nghiệp do 1 cá nhân,tổ chức làm chủ sở hữu.

Tôi cũng xin cung cấp thêm 1 số thông tin để Ông A và Bà B tham khảo trước khi quyết định lựa chọn hình thức doanh nghiệp nào cho mình.

Trước hết, đối với lại hình công ty Hợp Danh, Thành viên Hợp Danh của công ty phải chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ của công ty bằng toàn bộ tài sản của mình. Như vậy sẽ rất phiêu lưu nếu đặt toàn bộ tài sản của mình để chịu trách nhiệm cho việc kinh doanh.

Đối với hình thức công ty TNHH 2 thành viên trở lên: Hình thức công ty này vừa tận dụng được cả vốn góp từ các thành viên (vì có số thành viên tối đa lên tới 50 thành viên), mà vẫn đảm bảo được mối quan hệ dựa trên sự hiểu biết giữa các thành viên trong công ty (vì có quy định chặt chẽ trong vấn đề chuyển nhượng vốn góp).

Nếu chọn hình thức công ty này thì sẽ chắc chắn có sự hiểu biết nhất định giữa các thành viên sở hữu. Điều này rất quan trọng cho sự điều hành công ty đồng thời cũng huy động được lượng vốn góp đáng kể (nhưng có thể không có được nguồn vốn lớn như ở công ty Cổ Phần).

Hình thức công ty Cổ Phần: việc quản lý công ty dựa trên quan hệ đối vốn, ưu điểm. là sẽ huy động được nguồn vốn lớn, nhưng cũng chính vì đối vốn nên việc chuyển nhượng vốn khá dễ dàng, khó quản lý các thành viên của công ty. Nếu việc kinh doanh thực sự cần 1 nguồn vốn lớn cho hoạt động, mà những thành viên sáng lập không có đủ thì việc huy động vốn từ bên ngoài là cần thiết.

Chào thân ái !

Thực tập sinh Đã trả lời lúc Tháng Bảy 25, 2017.
Thêm nhận xét

Chào bạn,

Theo thông tin bạn cung cấp, tôi xin có tư vấn như sau;

Điều 13 Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 có quy định:

Điều 13. Quyền thành lập, góp vốn, mua cổ phần và quản lý doanh nghiệp

1. Tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Tổ chức, cá nhân sau đây không được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam:

a) Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;

b) Cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức;

c) Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam;

d) Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong các doanh nghiệp 100% vốn sở hữu nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo uỷ quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác;

đ) Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự;

e) Người đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị Toà án cấm hành nghề kinh doanh;

g) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản.

– Vậy Ông A và Bà B có quyền thành lập doanh nghiệp nếu không thuộc vào các trường hợp ở khỏan 2 Điều 13 nêu trên.

– Tùy theo ngành nghề,muc đích kinh doanh mà Ông A và Bà B có thể chọn các lọai hình doanh nghiệp sau: công ty TNHH 2 thành viên,công ty hợp danh, công ty cổ phần,hộ kinh doanh cá thể. Vì Ông A và Bà B đều muốn cùng đứng tên nên hình thức doanh nghiệp tư nhân và công ty TNHH 1 thành viên sẽ không phù hợp vì theo quy định tại Điều 63 khoản 1 và Điều 141 khoản 1 Luật doanh nghiệp là hình thức doanh nghiệp do 1 cá nhân,tổ chức làm chủ sở hữu.

Tôi cũng xin cung cấp thêm 1 số thông tin để Ông A và Bà B tham khảo trước khi quyết định lựa chọn hình thức doanh nghiệp nào cho mình.

Trước hết, đối với lại hình công ty Hợp Danh, Thành viên Hợp Danh của công ty phải chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ của công ty bằng toàn bộ tài sản của mình. Như vậy sẽ rất phiêu lưu nếu đặt toàn bộ tài sản của mình để chịu trách nhiệm cho việc kinh doanh.

Đối với hình thức công ty TNHH 2 thành viên trở lên: Hình thức công ty này vừa tận dụng được cả vốn góp từ các thành viên (vì có số thành viên tối đa lên tới 50 thành viên), mà vẫn đảm bảo được mối quan hệ dựa trên sự hiểu biết giữa các thành viên trong công ty (vì có quy định chặt chẽ trong vấn đề chuyển nhượng vốn góp).

Nếu chọn hình thức công ty này thì sẽ chắc chắn có sự hiểu biết nhất định giữa các thành viên sở hữu. Điều này rất quan trọng cho sự điều hành công ty đồng thời cũng huy động được lượng vốn góp đáng kể (nhưng có thể không có được nguồn vốn lớn như ở công ty Cổ Phần).

Hình thức công ty Cổ Phần: việc quản lý công ty dựa trên quan hệ đối vốn, ưu điểm. là sẽ huy động được nguồn vốn lớn, nhưng cũng chính vì đối vốn nên việc chuyển nhượng vốn khá dễ dàng, khó quản lý các thành viên của công ty. Nếu việc kinh doanh thực sự cần 1 nguồn vốn lớn cho hoạt động, mà những thành viên sáng lập không có đủ thì việc huy động vốn từ bên ngoài là cần thiết.

Chào thân ái !

Thực tập sinh Đã trả lời lúc Tháng Bảy 25, 2017.
Thêm nhận xét


Bạn cần Đăng nhập bằng tài khoản Facebook hoặc Google để trả lời !